Lịch sử - Văn hóa Huế
Thọ Xuân Vương - Ông Hoàng kiêm đủ Phúc Thọ Phú Quí
Ngày 25 tháng 9 năm 2018.

Thọ Xuân Vương (1810-1886) tự là Minh Tỉnh, hiệu Đông Trì, là con thứ 3 của Thánh tổ Nhân Hoàng đế (vua Minh Mạng). Mẹ là bà Gia phi Phạm Thị Tuyết, quê ở Bình Định, con gái của Truy Thự Quang lộc tự thiếu khanh Phạm Văn Chấn. 

Trong Phủ Thọ Xuân mọi người đều gọi bà là Đức Từ, linh vị bà đề là Tiên phi, thờ ở gian giữa; trong Đại Nam liệt truyện về sau cũng gọi bà là Tiên phi. Năm Gia Long thứ 11 (1812) Gia phi mất, lúc đó ông mới 3 tuổi, Thuận Thiên Cao Hoàng hậu (mẹ vua Thiệu Trị) đưa ông vào cung nuôi dưỡng. Ông được học chữ ở chái tây điện Cần Chánh, thường mang cả hòm sách đi nghe giảng nên vua Minh Mạng rất hài lòng và thường ngợi khen. Ông thông minh, hay thơ, giỏi ứng chế (thể văn do vua ra đề), có hai tác phẩm để lại là “Minh Mạng cung từ” và “Tỉnh Minh ái phương thi tập”. Đại thần Trương Đăng Quế suy tôn ông là bậc ứng chế nổi danh đương thời. Trong cung từ (thơ văn ghi chép chuyện trong cung cấm) Tùng Thiện Vương Miên Thẩm chép:
Tất cánh trầm tam hoàn đệ nhất
Đương gia thiến phủ Thọ Xuân Công
(Tuy ở hạng ba nhưng thành nhất
Nổi tiếng đương thời Thọ Xuân Công)
Lúc nhỏ ông được Thế tổ Cao Hoàng đế (vua Gia Long) ban cho tên Yến. Năm Minh Mạng thứ tư có Ngự chế Đế hệ thi về phép đặt tên nên trong Hoàng tộc ông được ban tên Miên Định. Đầu triều Minh Mạng Hoàng tử trưởng Miên Tông và ông được lệnh xuất các, lập phủ ở phía đông kinh thành. Khi Miên Tông lên ngôi, tiềm để của ông được xây dựng thành chùa Diệu Đế - nay ở đường Bạch Đằng, phường Phú Cát. Phủ Thọ Xuân Vương tọa lạc ở Phố Chợ Dinh xưa, nay là đường Chi Lăng, cũng thuộc phường Phú Cát. Quán ao hồ, ở đường Mạc Đĩnh Chi, nơi hai anh em Nguyễn Sinh Khiêm và Nguyễn Sinh Cung - sau này là Chủ tịch Hồ Chí Minh trọ học trong thời gian vào Huế lần thứ hai chính là ao sen phía sau của Phủ Thọ Xuân.
Dưới triều Minh Mạng, mỗi khi nhà vua tuần du về các tỉnh, Thọ Xuân Vương thường được giao trọng trách ở kinh đô. Năm Minh Mạng thứ sáu, vua đi Quảng Nam, dặn dò Thọ Xuân Vương “phải phụng theo từ chỉ (lời dạy của Hoàng hậu, Thái hậu), định mọi việc trong cung, sắp xếp để tâu lại”. Năm Minh Mạng thứ 11, vua đi Quảng Trị, lệnh cho Thọ Xuân Vương lưu giữ kinh đô và dụ rằng: “Kinh đô là nơi căn bản, lệnh cho con lưu giữ. Mỗi ngày phải đến điện Cần Chánh để cùng các quan bàn bạc”. Cũng năm Minh Mạng thứ 11, bắt đầu đặt lại các quan chức ở Tôn Nhơn Phủ, nhà vua cử Thọ Xuân Vương kiêm nhiếp Tôn Nhơn Hữu Tôn Chính, ghi tên tất cả bà con xa gần để cai quản. Mùa đông năm Minh Mạng thứ 21, nhà vua không được khỏe, khi xét các bản án tử hình thường giao cho ông và Hoàng tử trưởng đọc lại.
Hoàng tử thứ hai của vua Minh Mạng là Miên Chính mất sớm nên Thọ Xuân Vương là em kế vua Thiệu Trị, là Hoàng thân thân cận nhất của vua, là Thân thần dưới nhiều triều vua tiếp theo. Mùa xuân năm Thiệu Trị thứ hai (1842), nhà vua ra Thăng Long làm lễ sắc phong, Thọ Xuân Vương được sung Ngự tiền Thân thần. Ngày hành lễ, sứ Tàu là Bảo Thanh ngồi trên kiệu đi vào cửa Chu Tước. Như thế là phạm nghi thức điển lễ. Các quan văn võ đứng hai bên rất bất bình nhưng không một ai dám lên tiếng, quan đón tiếp cũng không dám ngăn cản. Thấy nhà vua, Quốc thể bị xúc phạm, Thọ Xuân Vương nổi giận, chỉ vào mặt sứ giả Thanh triều đang ngồi trên kiệu thét lớn: Nghi thức bang giao không cho phép nhà ngươi ngồi trên kiệu đến trước mặt Hoàng đế Đại Nam. Hãy xuống kiệu ngay lập tức. Sứ Thanh giật mình, xuống kiệu trong sự lúng túng, xấu hổ.
Lễ tất, nhà vua mở yến tiệc khoản đãi, sứ nhà Thanh từ chối, xin lui về công quán nghỉ ngơi. Thấy vậy các quan lấy làm lo lắng. Có người tâu: Lỗi này là do Thọ Xuân Công đã lớn tiếng với sứ giả. Vua Thiệu Trị nói: Nghi thức điển lễ bang giao đã đưa trước cho sứ nhà Thanh xem. Tại sao sứ Thanh lại phạm tất? Nếu Thọ Xuân Công không biết tự trọng, sợ nước lớn thì Quốc thể Đại Nam còn ra gì? Sứ Thanh là người có học đáng lẽ phải biết điều đó. Cớ sao sai phạm rồi còn giận dỗi từ chối khoản đãi? Người mình mà không biết trọng Quốc thể của mình trách gì người ngoài? Các khanh nên xét cho kỹ.
Sau lễ sắc phong vua ban khen Thọ Xuân Vương. Trở về Huế nhà vua thưởng cho Thọ Xuân Vương một viên ngọc có khắc bốn chữ “đặc nghị quyền hưu” (đặc biệt mãi mãi yêu thương).
Thọ Xuân Vương sống lâu, trải qua các đời vua Gia Long, Minh Mạng, Thiệu Trị, Tự Đức, Dục Đức, Hiệp Hòa, Kiến Phúc, Hàm Nghi, Đồng Khánh, chứng kiến 8 lần thay đổi ngôi vua. Từ đời Minh Mạng, đời vua nào ông cũng được nể trọng. Ông có công lớn trong tổ chức điều hành Tôn Nhơn Phủ. Đêm 4/7/1885 (23-5 âm lịch) Tôn Thất Thuyết chỉ huy quân đội tấn công quân Pháp. Sáng ngày quân Pháp phản công, kinh đô thất thủ, Tôn Thất Thuyết phò vua Hàm Nghi xuất cung ra sơn phòng Quảng Trị, xuống chiếu cần vương, tổ chức kháng chiến. Nước không thể không có vua, trong bối cảnh lịch sử đó, nhờ uy tín và đức độ của Thọ Xuân Vương, Nghi Thiên Chung Hoàng hậu (Đức Từ Dũ, vợ vua Thiệu Trị), Lệ Thiên Anh Hoàng hậu (vợ vua Tự Đức) và Hoàng tộc nhất trí đề cử Thọ Xuân Vương làm Nhiếp chính. Trong bối cảnh tang thương của đất nước, triều đình hỗn quân hỗn quan, Thọ Xuân Vương đứng ra lo quốc sự khi tuổi đã ngả chiều xế bóng. Trong những ngày cuối đời ông đã làm tròn vai trò chứng nhân của lịch sử bằng cách bảo đảm cho sự liên tục của triều Nguyễn.
Khi vua Đồng Khánh chính thức lên ngôi, Thọ Xuân Vương xin thôi Nhiếp chính nhưng vẫn giữ trọng trách ở Tôn Nhơn Phủ. Khi ông mất, vua cho nghỉ triều ba ngày. Thọ Xuân Vương có 78 con trai và 66 con gái. Ông là người có cả phúc và thọ.
Trong lễ ngũ tuần vạn thọ đại khánh tiết vào mùa xuân năm thứ 31, ông được tấn phong Thọ Xuân Vương, vua Tự Đức có dụ rằng: Thọ Xuân Vương tuổi gần 70, kiêm đủ phúc, thọ, phú, quí mà biết lo lắng trung thành, hết lòng với triều đình đã lâu. Đức tốt đó, chẳng phải riêng trẫm kính yêu, mà đủ để mọi người ngưỡng vọng…”. Năm sau mừng thọ ông 70 tuổi, vua Tự Đức ban phẩm vật cùng bài tự và bài ca. Bài tự về thọ ghi: “Việc ở đời khó được là phúc với thọ. Có người thọ mà không phúc. Được phúc thì trăm ngàn người chỉ có một, hai; được thọ thì chỉ được một, hai trong vạn ức người. Huống gì được cả hai điều, mà lại đầy đủ, chẳng thiếu sót chút nào thì trăm ngàn vạn ức tuyệt không có. Ít như vậy mà lại có, ta được một người”.

  

------------------------------------------------
Phòng Văn hóa & Thông tin TP

Tin tức khác
Độc đáo ẩm thực Huế
Độc đáo ẩm thực Huế

Huế từng là thủ phủ Đàng trong của các chúa Nguyễn rồi là kinh đô của triều Tây Sơn và nhà Nguyễn cho nên thú ăn chơi ở vùng đất này có nét đặc sắc riêng. Món ăn Huế chiếm vị trí quan trọng trong danh mục món ăn Việt Nam. Du khách đến Huế thường tìm đến những quán ăn đặc sản. Bởi vì người ta tìm đến quán ăn không chỉ vì đã thấm đói sau những buổi du ngoạn, viếng thăm các danh lam thắng cảnh, di tích lịch sử mà còn có điều thú vị nữa là để tìm hiểu văn hóa của một vùng đất qua nghệ thuật chế biến món ăn và những triết lý về ẩm thực. 

Chè Huế
Chè Huế

Ít thấy nơi nào món ăn lại phong phú như ở xứ Huế. Bên cạnh hàng trăm món ăn, hàng chục loại bánh đặc sản còn có thể kể ra vài chục loại chè. 

Khu vườn của thế giới bên kia
Khu vườn của thế giới bên kia

Triều đại nhà Nguyễn có 13 đời vua nhưng do những lý do lịch sử khác nhau nên chỉ xây dựng được 7 khu lăng tẩm. Mỗi lăng rộng từ hàng chục đến hàng trăm ha, qui mô lớn nhỏ khác nhau, xây dựng, bố cục theo những kiểu dáng khác nhau nhưng vẫn có những đặc điểm chung thống nhất. Bao quanh lăng là một vòng la thành rộng lớn. Phía ngoài la thành ngày trước là vùng đất cấm. Bên trong la thành, xung quanh các công trình kiến trúc có đào hồ thả sen, ven hồ trồng đủ các loại cây thích hợp, có kiểu dáng đẹp. Các công trình kiến trúc ở mỗi lăng thường được bố trí từ ngoài vào trong theo thứ tự: cổng tam quan, sân chầu, nhà bia, điện thờ, lầu gác, hồ sen, đình tạ, sân vườn. Ở trong cùng là bửu thành, nơi đặt thi hài của nhà vua. 

Lễ hội tôn vinh đạo học
Lễ hội tôn vinh đạo học

Khoa cử ở Việt Nam ngày xưa có nguồn gốc từ Trung Quốc. Khoa cử là nguyên tắc quan trọng nhất, nguyên tắc số 1 để chọn nhân tài ra giúp nhà vua điều hành, quản lý bộ máy Nhà nước phong kiến. Khoa thi đầu tiên được tổ chức thời nhà Lý, dưới triều Lý Nhân Tông, thế kỷ XI. Trước đó, muốn học thì phải vào chùa, vì tu sĩ Phật giáo là tầng lớp trí thức của xã hội. Lý Công Uẩn cũng từng là môn sinh của nhà sư Lý Khánh Vân. Khi lên ngôi vua, Lý Thái Tổ đã tạo điều kiện cho nhà chùa phát triển cả đạo Phật và đạo học. Nhân sự chủ chốt của Triều đình thời bấy giờ thường là do các vị thiền sư, các vị cao tăng lựa chọn, giới thiệu. Thời kỳ này Nho học mới bắt đầu thịnh và khoa cử cũng mới bắt đầu nên triều đại nhà Lý chỉ tổ chức được 7 khoa thi. 

Nhà vườn - nghệ thuật sống
Nhà vườn - nghệ thuật sống

Huế là một thành phố vườn. Người Huế thích ở nhà vườn hơn là ở nhà cao tầng. Mỗi ngôi nhà chìm sâu trong yên tĩnh của một thế giới riêng biệt của cỏ, cây, hoa, lá bốn mùa tươi tốt làm cho cả thành phố như là một công viên lớn, một công viên cây xanh. 

Quốc mẫu Phước Đức Hiển Minh
Quốc mẫu Phước Đức Hiển Minh

Trong các bậc mẫu nghi thiên hạ ít ai được như Thái hoàng Thái hậu Từ Dũ. Bà là người mẫu mực về đức hạnh, yêu thương dân, nuôi dạy con giỏi và biết đối nhân xử thế; khi cần biết tham gia việc triều chính đúng mức, hiệu quả. Người đời sau trân trọng gọi bà là Quốc mẫu. Sử nhà Nguyễn ngợi ca bà: “Hợp tất cả phúc của thiên hạ làm phúc của mình”. 

Sức hấp dẫn của ngôi chùa Huế
Sức hấp dẫn của ngôi chùa Huế

Tiếng chuông ngân nga sớm tối vọng lên từ trên 100 mái chùa cổ kính là một nét độc đáo góp phần tạo nên bản sắc của xứ Huế đẹp và thơ. Đẹp và thơ cả về truyền thống đạo pháp và dân tộc, về kiến trúc và dáng vẻ phong cảnh. Bởi thế suốt trong chiều dài lịch sử của mình Huế là một trung tâm Phật giáo lớn của Việt Nam. Đến thăm cố đô Huế, những ngôi cổ tự sẽ là nơi thanh thản của tâm hồn, là nơi để du khách đi dưỡng tinh thần. 

Thế giới của tâm hồn và nghệ thuật
Thế giới của tâm hồn và nghệ thuật

Du khách đến Huế bị cuốn hút bởi hệ thống cung điện, lăng tẩm và quần thể kiến trúc dân gian, kiến trúc tôn giáo nằm xen lẫn, hài hòa với kiến trúc cung đình và giữa một bối cảnh thiên nhiên êm ả, trữ tình. 

Công tác quản lý và trùng tu di tích lịch sử, văn hóa trên địa bàn tỉnh giai đoạn 2011 – 2016
Công tác quản lý và trùng tu di tích lịch sử, văn hóa trên địa bàn tỉnh giai đoạn 2011 – 2016

 Giai đoạn 2011 – 2016, trên địa bàn tỉnh Thừa Thiên Huế đã có 156 di tích được xếp hạng, trong đó có 87 di tích cấp quốc gia (02 di tích cấp quốc gia đặc biệt), 69 di tích cấp tỉnh.

Ý nghĩa Lễ Dâng hương kỷ niệm 229 năm ngày Nguyễn Huệ lên ngôi Hoàng Đế tại Phú Xuân (1788-2017) và 228 năm chiến thắng Ngọc Hồi – Đống Đa
Ý nghĩa Lễ Dâng hương kỷ niệm 229 năm ngày Nguyễn Huệ lên ngôi Hoàng Đế tại Phú Xuân (1788-2017) và 228 năm chiến thắng Ngọc Hồi – Đống Đa

 Vào cuối thế kỷ thứ XVIII, Thuận Hóa - Phú Xuân gắn liền với những thành tựu to lớn của phong trào Tây Sơn, với tên tuổi và sự nghiệp của người anh hùng dân tộc lỗi lạc Nguyễn Huệ - Quang Trung. Bắc Bình Vương Nguyễn Huệ là vị danh tướng thiên tài đã đưa phong trào Tây Sơn đi từ thắng lợi này đến thắng lợi khác và phát triển lên đến đỉnh cao.