Thông tin tên đường phố
Phường:  
Tên đường phố:  
A Ă Â B C D Đ E Ê G
H I K L M N O Ô Ơ P
Q R S T U Ư V X Y #
 
Nguyễn Công Trứ

1. Vị trí con đường

Đường Nguyễn Công Trứ nằm trên địa bàn phường Phú Hội, về phía Nam sông Hương, khởi đầu từ đường Lê Lợi (điểm tiếp giáp Bắc Đập Đá) chạy dọc sông Thọ Lộc qua ngã ba đường Võ Thị Sáu đến đường Nguyễn Lộ Trạch (tiếp giáp Bắc cầu Vĩ Dạ), dài 470m. Đường lưu thông hai chiều, cấm xe tải nặng.

2. Lịch sử con đường

Đường được hình thành từ thế kỷ 19, cùng thời với những dòng họ đến đây định cư. Nguyên xưa nền đường còn rải bằng đất, thuộc làng Thọ Lộc, huyện Hương Trà. Đầu thế kỷ 20, sát nhập vào thành phố. Trước năm 1955 là đường Chợ Cống (Rue Cho Cong); ca dao Huế có câu: "Giả đò buôn hẹ bán hành/ Vô ra chợ Cống thăm anh kẻo buồn"(một cử chỉ của người con gái khi đến thăm chàng trai vào hướng chợ Cống, ở đây có khá nhiều phủ đệ của các ông hoàng bà chúa, chợ có từ đầu thế kỷ 20). Dân gian thường gọi là đường Miếu Cây Thị (có ngôi miếu thờ Mẫu của làng nằm cạnh đường này, miếu được lập từ cuối thế kỷ 19 và trồng bên miếu một cây thị, nay đã trên một trăm năm mươi tuổi). Sau năm 1956, đặt lại tên là đường Nguyễn Công Trứ cho đến ngày nay.

3. Tiểu sử nhân vật lịch sử gắn liền với con đường

Nguyễn Công Trứ (Mậu Tuất 1778 - Mậu Ngọ 1858) Nguyễn Công Trứ là danh sĩ đời Tự Đức, lúc nhỏ có tên là Củng, tự là Tồn Chất, hiệu Ngộ Trai, biệt hiệu Hải Văn, quê ở làng Uy Viễn, xã Xuân Giang, huyện Nghi Xuân, tỉnh Hà Tĩnh. Xuất thân trong một gia đình quan lại, cha làm Tham tán Nhung vụ, tước Đức Ngạn Hầu triều Lê - Trịnh. Năm 1819 ông đỗ Giải nguyên, năm 1820 được bổ làm Hành tẩu ở Quốc Sử quán, thăng dần lên Lang trung, Thị lang, Tham tri, sung chức Dinh điền sứ, Tổng đốc An Hải, nhiều lần làm tướng cầm quân dẹp thảo khấu bình định nội loạn, rồi bị cách chức, sau lại phục chức thăng Phủ doãn Thừa Thiên. Ông tính tình ngay thẳng, phóng khoáng, lại liêm khiết thương dân, hết mình vì đất nước, công lao không ai sánh được. Ông là người làm hết mực, chơi hết ga, đồng thời là một nhà văn hóa dân tộc. Về "cách chơi" ông có bài thơ nổi tiếng viết ở Huế: "Lênh đênh một chiếc thuyền lan Một cô gái Huế, một quan đại thần Ban ngày quan lớn như thần Ban đêm quan lớn tần mần như ma Ban ngày quan lớn như cha Ban đêm quan lớn rầy rà như con". Ông để lại khá nhiều thơ văn, nhiều bài hát nói theo chất liệu dân ca xứ Nghệ. Là người có công khẩn hoang lập ra hai huyện Tiền Hải, Kim Sơn, tỉnh Thái Bình. Năm Thiệu Trị thứ ba, 1843, ông bị vu cáo nên bị cách tuột hết chức vụ, giáng xuống làm lính thú ở Quảng Ngãi. Ông đã từng nói: "Lúc làm đại tướng tôi không lấy làm vinh, thì nay làm tên lính tôi cũng không lấy làm nhục. Người ta ở địa vị nào có nghĩa vụ đối với địa vị ấy". Sau khi ông mất, nhân dân nhiều nơi đã lập đền thờ suy tôn ông làm Khai canh, Thành hoàng làng. Tháng 6 năm Duy Tân thứ tám (1914) ông được truy phong tước Thọ Tường Tử. Công ty du lịch Hương Giang, Phủ Lạc Hóa Quận Công (con trưởng của chúa Nguyễn Phúc Lan), Từ đường Bùi tộc của nhà cách mạng tiền bối Bùi San - Bí thư Tỉnh ủy Bình Trị Thiên từ 1976 đến 1982, Miếu Cây thị (thờ Mẫu của làng dưới gốc cây thị cổ trên 150 năm), Chùa Phú Lâu, Phủ An Thường Công chúa, Phủ Hàm Thuận Công (phòng Nguyễn Phúc Miên Thủ - con thứ 9 của vua Minh Mạng) và nhiều khách sạn nhà hàng nằm trên đường này.