Các phường >> Phường Phường Đúc
Giới thiệu chung

Địa chỉ: 214 Bùi Thị Xuân
Địện thoại: 0234. 3823551
Fax: 0234. 3822873
Email: phuongduc.tphue@thuathienhue.gov.vn
Website:

 

A.VỊ TRÍ ĐỊA LÝ VÀ CÁC ĐIỀU KIỆN TỰ NHIÊN
I. VỊ TRÍ ĐỊA LÝ VÀ GIÁ TRỊ KINH TẾ XÃ HỘI :
Phường Phường Đúc nằm trên một dãi đất ven sông thuộc bờ hữu ngạn sông Hương, cách trung tâm thành phố chừng 3 km về phía Tây Nam.
Phường có tọa độ địa lý 16027'19" vĩ độ Bắc và 1070 33'52" kinh tuyến Đông.
Địa giới của phường được xác định :
- Bắc giáp bờ hữu ngạn sông Hương (bờ tả ngạn là phường Kim Long ) và sông An Cựu (còn gọi là sông Lợi Nông - bờ tả ngạn là phường Vĩnh Ninh);
- Đông giáp phường Trường An;
- Nam giáp phường Thủy Xuân;
- Tây giáp phường Thủy Biều;
Phường Phường Đúc có diện tích tự nhiên chừng 1,64 km2, kéo dài theo hướng Đông - Tây hơi lệch theo hướng Đông Bắc - Tây Nam, từ cầu Nam Giao lên giáp khu vực chợ Long Thọ với chiều dài chừng 5 km, nơi có chiều ngang mở rộng nhất theo hướng Bắc – Nam là đoạn từ cầu Bạch Hổ (Dã Viên) vào khu đồi Lịch Đợi rộng chừng 3 km, nơi hẹp nhất chỉ vài trăm mét là khu vực 4, nơi có trụ sở HĐND - UBND Phường tọa lạc.
Ga Huế được xây dựng từ năm 1906 và hoạt động cho đến nay, nơi thường xuyên tiếp nhận hàng hóa và đưa đón hàng vạn lượt khách trong và ngoài nước đến với Huế và cũng từng là tụ điểm hoạt động của tội phạm hết sức phức tạp.
Năm 1908 Pháp đã cho xây dựng cầu ở đây để lưu thông tuyến đường sắt có tên gọi (cầu Bạch Hổ) và năm 2012 cũng trên bờ dòng sông này cầu đường bộ bắc qua Sông Hương mới đưa vào hoạt động tạo thêm trục giao thông quan trọng nối hai bờ Bắc Nam sông Hương (HĐND tỉnh Khoá VI, kỳ họp thứ V đã ra Nghị quyết đặt tên chiếc cầu này là cầu Dã Viên).
Có bờ hữu ngạn sông Hương và sông An Cựu dài chừng 5 km, nơi có hàng trăm hộ đò sinh sống qua bao đời nay, bao gồm cả cồn Dã Viên với tháp nước cao hơn 50m được xây dựng vào năm 1909.
Hàng ngày có hàng trăm lượt du khách qua lại trên sông bằng các phương tiện thủy để vãn cảnh và thăm thú các di tích lịch sử, văn hóa. Nhiều bến sông đã được thiết lập để đưa đón du khách đến với tuyến làng nghề đúc đồng truyền thống Phường Đúc .
Phường Đúc còn nổi tiếng với làng nghề đúc đồng thủ công truyền thống đã phát triền hơn 4 thế kỷ qua với những địa danh đi liền với Làng nghề như: Kinh nhơn, Bổn bộ Trường đồng, Trường súng…Năm 2013 được tỉnh công nhận danh hiệu (Làng nghề đúc đồng truyền thống), nhiều sản phẩm tiêu biểu đã được lưu giữ cho đến ngày nay như Tượng phật Thích Ca tại Tổ đình Từ Đàm, cửu Đỉnh, Vạc đồng, súng thần công ở hoàng thành Huế, chuông Linh Mụ, …
Có nhiều di tích lịch sử, văn hóa ý nghĩa và giá trị như: Di tích lịch sử - văn hoá được xếp hạng cấp Quốc gia lăng mộ nhà thơTuy Lý Vương và thân mẫu Lê Tiệp Dư, di tích lịch sử - văn hoá được xếp hạng cấp Quốc gia và phần mộ tổ nghề đúc đồng họ Nguyễn Kinh Nhơn, di tích tôn giáo hàng trăm năm tuổi Chùa Báo Quốc, Giáo xứ Phường Đúc (nhà thờ Trái Tim), đình Xuân Giang, miếu thờ Lịch Đại đế vương, miếu thờ Vua Lê Thánh Tông …
II. ĐỊA HÌNH VÀ ĐẤT ĐAI :
Là một dãi đất hẹp chạy theo ven sông nhưng Phường Đúc có địa hình khá đa dạng:
+ Địa hình ven sông: chiếm chừng 20% diện tích với cồn Dã Viên và các bãi bồi ven sông, nơi đây độ phì nhiêu của đất được tăng cường hàng năm bởi phù sa sông thuận lợi cho việc sản xuất nông nghiệp với các loại hoa màu ngắn ngày như các loại rau, đậu, cây gia vị, cây ăn quả, cây lương thực như bắp (ngô) – bắp cồn Dã Viên có hương vị thơm ngon không thua kém bắp cồn Hến nổi tiếng là bao.
+ Địa hình đồng bằng: chiếm hơn 50% diện tích, địa hình thường thấp trũng, nơi đây trước kia nhiều khu vực là đồng ruộng để trồng lúa nước, nhưng hơn hai thập kỷ qua theo quá trình phát triển đô thị hóa các đồng ruộng đã chuyển đổi mục đích sang xây dựng các khu dân cư. Do còn thấp trũng và ảnh hưởng của việc xây dựng các khu dân cư nên hiện nay khu vực này thường bị ngập úng cục bộ và chịu ảnh hưởng của các trận lũ lụt hàng năm.
+ Địa hình đồi thấp: chiếm trên 20% diện tích chủ yếu là khu vực Lịch Đợi ( Độn Hỏa Pháo) đất chủ yếu là đất feralit vàng đỏ, thuận lợi cho việc trồng các cây ăn quả dài ngày, trồng rừng. Trước đây khu vực này là vùng đất thưa dân và có nhiều mồ mã nhưng nay đã được quy hoạch, phân bố lại nên dân cư tập trung ngày càng nhiều, các khu vực hoang hóa đã được khai thác và đưa vào sử dụng.
III. KHÍ HẬU VÀ THỜI TIẾT:
Phường Đúc mang đầy đủ các đặc tính khí hậu và thời tiết thành phố Huế và tỉnh TT- Huế. Thời kỳ khô hạn thường kéo dài 6 tháng trong năm từ tháng 3 đến tháng 8, thời kỳ ẩm ướt cũng 6 tháng từ tháng 9 đến tháng 2. Là vùng thấp trũng nên khi có lũ lụt xảy ra thường hay bị ngập sâu trên diện rộng.
IV. SÔNG NGÒI :
Phường Đúc nằm ở bờ hữu ngạn phía hạ nguồn sông Hương chảy qua thành phố Huế, từ cầu Bạch Hổ giáp cồn Dã Viên, sông Hương có chi lưu là sông An Cựu (Lợi Nông) Phường Đúc cũng giáp với bờ hữu sông An Cựu cho đến cầu Nam Giao. Cả hai đoạn sông chảy qua địa bàn phường chừng 5km. Ngoài hai sông trên, trong địa bàn phường còn có nhiều khe suối bắt nguồn từ vùng đồi Lịch Đợi và phường Thủy Xuân chảy theo hướng Bắc Nam đổ ra sông qua các điểm thoát nước chính: cống Cầu Sắt (Khu vực 5), cống Trắng ( Khu vực 4), cống Cầu Lòn ( Khu vực 3), các cống qua đường Bùi Thị Xuân và Phan Chu Trinh đổ ra sông An Cựu (Khu vực 2). Các sông tạo điều kiện thuận lợi trong việc cung cấp nguồn nước tưới, giao thông đường thủy và một ít hải sản nhưng do quá trình đô thị hóa đang ngày càng bị ô nhiễm nếu không có kế hoạch cải tạo và xử lý nguồn nước thải từ các khu dân cư.
V.     HỆ SINH THÁI ĐỘNG THỰC VẬT :
Về thực vật: cây trồng chủ yếu trong phường là các loại cây hoa màu như rau, đậu, bắp, các loại cây ăn quả, cây gia vị. Phân bố chủ yếu ở cồn Dã Viên và các bãi bồi ven sông, một số điểm đã phát triển trồng hoa và cây cảnh, cây dược liệu có giá trị kinh tế cao nhưng quy mô còn nhỏ. Một số diện tích đất trồng lúa nước, trồng rau răm, trồng rừng trên đồi trọc trước đây nay bị thu hẹp và mất dần theo quá trình tái định cư và đô thị hóa.
Về động vật: Phường Đúc không có gì đặc biệt, một số hộ dân còn duy trì việc đánh bắt cá tự nhiên trên sông, một số hộ khác chăn nuôi nhỏ gia cầm, gia súc trong gia đình.
B - CÁC ĐIỀU KIỆN KINH TẾ- XÃ HỘI
I. SỰ RA ĐỜI TÊN GỌI PHƯỜNG ĐÚC:
Trước hết cần phân biệt 2 khái niệm Phường Đúcphường Phường Đúc. Phường Đúc là những xóm thợ làm nghề đúc còn phường Phường Đúc là tên gọi một đơn vị hành chính cấp phường trực thuộc thành phố Huế hiện nay.
Khi các Chúa Nguyễn thiên di vào xứ Đàng trong và dần dần tách khỏi xứ Đàng ngoài, để thể hiện sự tồn tại độc lập của mình, một số ngành nghề thủ công đã được tổ chức thành những biên chế theo ngạch binh nhằm dễ bề quản lý, tên gọi các tổ chức biên chế đó là các Tượng cục, các biên chế nghề đúc được gọi là Chú Tượng ty.
Tổ chức này tồn tại từ thời đầu các Chúa Nguyễn cho đến triều đạị Tây Sơn và sau này là các đời Vua Nguyễn.
Như vậy Phường Đúc ở Huế ra đời từ nguồn gốc là một tổ chức gồm các thợ thuyền làm nghề đúc từ thời phong kiến Chúa Nguyễn, Phường Đúc lúc đó chỉ là 5 xóm thợ đúc hay còn gọi là năm dãy thợ đúc nằm ven bờ hữu ngạn sông Hương đoạn qua trước chính dinh Kim Long nằm ở bờ bên kia sông Hương, 5 xóm này có tên gọi lần lượt từ Đông sang Tây là: Giang Dinh, Giang Tiền, Kinh Nhơn, Bổn Bộ ( hay Bản Bộ ), Trường Đồng .
Năm 1983, khi thành lập đơn vị hành chính mới thì địa danh Phường Đúc trở thành tên gọi của một đơn vị hành chính cấp phường của thành phố Huế, tỉnh Thừa Thiên Huế. Lúc này phường Phường Đúc không chỉ là 5 xóm thợ đúc xưa mà gồm cả phần đất Lịch Đợi, Bảo Quốc, Ga Huế của phường Vĩnh Ninh cũ, xóm Xuân Giang, Bồi Thành và phần đất giáp dốc Thành Lồi thuộc thôn Thượng 5, xã Thủy Xuân cũ .
II. SỰ HÌNH THÀNH ĐƠN VỊ PHƯỜNG ĐÚC VÀ TỔ CHỨC HÀNH CHÍNH TRỰC THUỘC PHƯỜNG:
Từ đầu thế kỷ thứ XIV (1306) khi Vua Champa là Chế Mân cưới Công chúa Huyền Trân làm vợ với sính lễ là 2 châu Ô và Rí thì Ô và Rí đã thuộc chủ quyền nhà Trần nước Đại Việt, đến đời Lê khi cơ chế hành chính được điều chỉnh và củng cố tên gọi Thuận Hóa ra đời và trở thành một trong 12 đạo Thừa Tuyên.
Khu vực Phường Đúc lúc đó nằm trong địa phận xã Dương Xuân, tổng Vĩ Dạ, Huyện Hương Trà, Phủ Triệu Phong (theo Ô châu cận lục của Lê Quý Đôn). Vào triều Minh Mạng (1820-1840) thì làng Dương Xuân thuộc Tổng Cư Chánh, huyện Hương Thủy, tỉnh Thừa Thiên. Đến triều Tự Đức (1847-1883) thì làng Dương Xuân được tách thành 2 làng Dương Xuân Thượng và Dương Xuân Hạ, cả hai làng trước năm 1975 đều thuộc xã Thủy Xuân, huyện Hương Thủy, tình Thừa Thiên Huế.
Phường Phường Đúc được chính thức thành lập và ra mắt ngày 20-08-1983 theo Quyết định số 03 của Hội đồng Bộ trưởng về phân chia địa giới hành chính thành lập thêm một số phường xã mới thuộc tỉnh Bình Trị Thiên do Bộ trưởng, Tổng thư ký HĐBT Nguyến Hữu Thụ ký ngày 06 tháng 01 năm 1983.
Địa bàn để thành lập phường là một phần của phường Vĩnh Ninh gồm khu vực Bảo Quốc, khu vực Lịch Đợi, khu vực Ga Huế từ Cầu Nam Giao đến cầu Lòn và cồn Dã Viên cùng với hầu hết phần đất của thôn Thượng 5, xã Thủy Xuân (nay là phường Thủy Xuân) đoạn từ cầu Lòn lên giáp với khu vực chợ Long Thọ (Thủy Biều) gồm các xóm: xóm Xuân Giang, xóm Bồi Thành và nỗi bật là vùng đất của 5 dãy thợ đúc trước đây với tên gọi theo thứ tự từ dưới lên là Giang Dinh, Giang Tiền, Kinh Nhơn, Bổn Bộ và Trường Đồng .
Qua 30 năm hình thành và phát triển, các đơn vị hành chính trực thuộc phường có những biến động địa giới hành chính như: từ năm 1983 đến năm 1996 gồm 25 tổ dân phố và được chia thành V khu vực, đầu 1997 không còn phân chia địa bàn khu vực mà sáp nhập thành 18 tổ dân phố cho đến nay. Thực hiên dự án di dời và tái dịnh cư cho cư dân vạn đò của thành phố trong năm 2009-2010 đã di dời 52 hộ cư dân vạn đò với 357 khẩu đến khu vực tái định cư thuộc phường Hương Sơ, thành phố Huế và xã Phú Mậu – Phú Vang đồng thời xóa tên địa danh tổ 18. Năm 2010 thực hiện dự án cầu đường bộ bắc qua sông Hương và dự án mở rộng đường Tôn Thất Tùng (năm 2012-2013), toàn bộ Tổ 8 và một phần Tổ 9 với 38 hộ và trên 152 nhân khẩu được di dời và chuyển đi theo chương trình tái định cư tại Bàu Vá và Lịch Đợi .
Hiện nay phường đang điều chỉnh lại địa giới các khu vực và tổ dân phố cho phù hợp với địa bàn dân cư và phân bố dân cư.
+ Phường có 5 khu vực và 16 Tổ dân phố gồm:
+ Khu vực 1 (khu vực Lịch Đợi) có các Tổ 1-2-3-4;
+ Khu vực 2 (khu vực Bảo Quốc và đường Phan Chu Trinh) có các Tổ 5-6;
+ Khu vực 3 (khu vực Ga Huế, khu tái định cư Lịch Đợi) có các Tổ 7, 9-10;
+ Khu vực 4 (từ cầu Lòn lên bến đò Phường Đúc) có các Tổ 11-12-13;
+ Khu vực 5 (từ bến đò Phường Đúc lên giáp chợ Long Thọ) có các Tổ 14-15-16-17.
III. DÂN CƯ VÀ LAO ĐỘNG :
Ngày đầu mới thành lập dân số Phường Đúc khoảng hơn 1.200 hộ với trên 5700 khẩu, sau 30 năm con số này tăng dần theo đến nay có 2.536 hộ với 10.555 khẩu chia làm 16 tổ dân phố, mổi tổ có từ 120-160 hộ, cao nhất là 190 hộ
Mật độ dân số: 6.364 người/km2
1. Cơ cấu dân cư và lao động:
1.1 - Cơ cấu nam, nữ:
+ Tông số dân Nam: 5.061/10.438 - Tỉ lệ: 48,486 % dân số
+ Tổng số dân Nữ   : 5.377/10.483 - Tỉ lệ: 51,513 % dân số
1.2 - Cơ cấu nghề nghiệp:
Năm 1983 khi mới thành lập tình hình kinh tế địa phương, công ăn việc làm của người dân còn có quá nhiều khó khăn, đa số là lao động phổ thông, quá trình phát triển đã hình thành nền kinh tế tư nhân, buôn bán nhỏ lẻ, may mặc, kinh tế tập thể góp vốn, cổ phần với hơn 30 doanh nghiệp đồng thời với việc hình thành các Hợp Tác Xã (mây tre đan lát, gạch ngói, Đúc đồng cao cấp, Hợp Tác Xã mua bán). Đến nay chỉ còn duy nhất Hợp Tác Xã cổ phần đúc cao cấp Thắng Lợi đang đứng vững và hoạt động, kinh tế làng nghề từng bước chuyển mình với 50 cơ sở đúc nay chỉ còn lại 27 cơ sở tiếp tục sản xuất với các mặt hàng đáp ứng nhu cầu đặt hàng và kinh doanh và đã có nhiều thợ lành nghề được phong nghệ nhân như: cụ Nguyễn Văn Sính, Nguyễn Văn Đệ; Ông Nguyễn Văn Thuận B, Nguyễn văn Tuệ..., bên cạnh đó hoạt động vận tải ngày càng phát triển xe ô tô, đã nhiều hơn xe xích lô và không còn xe bagac. Đội ngũ lao động trí thức, công nhân viên chức, người làm nghề ngày một đông hơn. 
2. Cơ cấu theo Tín ngưỡng:
Là địa bàn có nhiều cơ sở Phật tự và có Giáo xứ, đa số nhân dân theo đạo phật, một bộ phận nhân dân Thiên Chúa giáo tập trung chủ yếu ở khu vực V.
3. Số hộ nghèo và cận nghèo:
                                                 Số hộ nghèo         Số hộ cận nghèo
- Năm 1993                                     276                              0
- Năm 2003                                     148                              0
- Năm 2013                                       44                             51
- Kết quả giảm tỷ lệ hộ nghèo trên là một nỗ lực rất lớn bằng các chủ trương lớn của Đảng và chính sách của Nhà nước cộng với hàng loạt các biện pháp, các giải pháp kích cầu, bên cạnh đó là các phong trào: Nhường cơm sẻ áo, lá lành đùm lá rách, uống nước nhớ nguồn, phong trào làm nhà tình nghĩa, xóa nhà tạm... Đã tạo ra một động lực lớn cho toàn xã hội phát huy lòng nhân ái và người nghèo phát huy tinh thần của mình vươn lên thoát nghèo. Sau 20 năm từ 276 hộ nghèo nay chỉ còn 44 hộ, đã có hàng chục hộ chính sách, hộ nghèo được hổ trợ sửa chữa và xây dựng mới nhà ở.
IV. TÌNH HÌNH PHÁT TRIỂN DÂN SỐ :
Công tác kế hoạch hóa gia đình được quan tâm, hoạt động tích cực. Tỷ lệ tăng dân số ngày một giảm: từ 1,4% năm 1991, đến năm 1995 xuống còn 1,32% và đến năm 2013 tỷ lệ phát triển dân số tự nhiên giảm xuống còn 1%.
V. CÔNG TÁC GIÁO DỤC:
Năm 1983 khi phường Phường Đúc thành lập cơ sở giáo dục chỉ có duy nhất một trường cấp I B Thủy Xuân sau đổi thành trường cấp I - II Phường Đúc cơ sở vật chất thực sự nghèo nàn phòng học thì phân bổ nhiều nơi khó quản lý, giáo viên thì thiếu, học sinh đã phải học theo 3 ca mỗi ngày. Phải mượn Am xóm Bến cát (Tổ 8 bây giờ), nhà dân để làm cơ sở mẩu giáo. Qua 30 năm hệ thống giáo dục đào tạo của Phường đã có nhiều chuyển biến đáng kể.
*Các cơ sở giáo dục tại địa phương:
 - Trường Mầm non Phường Đúc được thành lập năm 1986, qui mô ban đầu có 3 lớp đến năm 1991 có quyết định chính thức thành lập trường và lấy tên là Trường Mầm non Phường Đúc.
 Được sự quan tâm của Đảng uỷ và chính quyền địa phương cùng các cấp các ngành công trình xây dựng giai đoạn I Trường Mầm non Phường Đúc được đi vào sử dụng và 8/2006 với 5 phòng học và sân chơi tương đối khang trang.
 Từ đó đến nay trường ổn định, phát triển và không ngừng nâng cao chất lượng về mọi mặt. Qua nhiều năm học, trường được Lãnh đạo phòng GD&ĐT, phòng Tài chính-kế hoạch thành phố Huế, hội cha mẹ trẻ em đầu tư cải tạo, nâng cấp cơ sở vật chất trường lớp, mua sắm trang thiết bị phục vụ cho chương trình chăm sóc giáo dục trẻ. Đến nay trường tiếp tục nâng cấp và hoàn thiện dần dần cơ sở vật chất các phòng học, phòng chức năng theo hướng xây dựng trường đạt chuẩn, đảm bảo cho nhu cầu hoạt động của trường. Nhiều năm đạt danh hiệu Trường tiên tiến cấp thành phố. Tập thể lao động tiên tiến. “công đoàn cơ sở vững mạnh” được Liên đoàn lao động TP, công đoàn GD ngành khen.
 - Trường tiểu học Phường Đúc                                                                           
Từ 3 cơ sở nay đưa về một cơ sở ở 245 Bùi Thị Xuân, có diện tích 6.974 m2 được xây dựng trường rào bao quanh, có cổng trường đúng quy định; trường có 29 phòng học 10 phòng chức năng ( trong đó có 1 dãy nhà học 2 tầng và 1 nhà học 3 tầng đảm bảo cho 100 % học sinh học 2 buổi/ ngày. Các phòng chức năng đều được trang bị các thiết bị hiện đại phục vụ giảng dạy và học tập: Phòng tin học được nâng cấp, nối mạng, thay các máy mới, sử dụng phần mềm để giảng dạy; Phòng Âm nhạc được được bổ sung thên đàn PIANO kỹ thuật số; trang bị Bảng tương tác thông minh để giảng dạy các bộ môn; các phòng làm việc đều được trang bị máy tính và sử dụng các phần mềm để quản lý và tổ chức các hoạt động trong nhà trường.
- Các hoạt động nổi bật, thành tích đạt được:
+ Trường luôn thực hiện tốt các phong trào thi đua yêu nước; cuộc vận động “ Học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh” được Đảng bộ thành phố tặng giấy khen; được Sở GD&ĐT Chứng nhận thực hiện tốt phong trào phong trào “ Xây dựng trường học thân thiện, học sinh tích cực”.
 + Liên tục từ năm học 2007-2008 đến nay : được UBND tỉnh Thừa Thiên Huế tặng danh hiệu Tập thể Lao động xuất sắc.
 + Được Chủ tịch nước tặng Huân chương Lao động hạng Ba năm 2007.
 + Trường được công nhận trường chuẩn Quốc gia mức độ 1 và đang xây dựng trường đạt chuẩn Quốc gia mức độ 2.
 + Chất lượng đại trà và chất lượng mũi nhọn tăng hàng năm, chất lượng giáo dục toàn diện tốt; hàng năm có học sinh giỏi, năng khiếu cấp tỉnh, cấp Quốc gia.
- Trường phổ thông trung học cơ sở Tôn Thất Tùng:
Trường được đầu tư xây dựng thêm một số phòng học, hiện nay trường có 18 phòng học đảm bảo cho 100% lớp học 2 buổi / ngày. Các trang thiết bị dạy học được mua sắm theo hướng chuẩn hóa và hiện đại hóa để phục vụ tốt cho việc đổi mới phương pháp giảng dạy. Hiện nay, thành phố đang tiến hành dự án mở rộng trường để đảm bảo diện tích theo chuẩn quốc gia.
Với phương châm đào tạo: “Chất lượng là trách nhiệm, là danh dự và là uy tín của nhà trường”, mặc dù còn gặp nhiều khó khăn về cơ sở vật chất nhưng trong những năm qua, đội ngũ CBGVNV và HS của nhà trường đã phấn đấu nỗ lực để hoàn thành tốt nhiệm vụ chính trị của nhà trường. Tỷ lệ HS lớp 9 Tốt nghiệp THCS luôn đạt tỷ lệ cao, trên 97 %. Tỷ lệ HS Giỏi và khs về học lực ngày càng tăng, tỷ lệ yếu kém ngày càng giảm. Số HS bỏ học giảm dần, chất lượng phổ cập giáo dục THCS trên địa bàn phường ngày càng được củng cố.Nhiều năm đạt danh hiệu Trường tiên tiến cấp thành phố, tiên tiến cấp Ngành và nay là đơn vị Tập thể lao động Tiên Tiến. “công đoàn cơ sở vững mạnh” được Liên đoàn lao động TP, công đoàn GD ngành khen.“chi đoàn vững mạnh” được Đoàn phường tặng bằng khen.Liên đội tiếp tục giữ vững danh hiệu “Liên đội vững mạnh”
VI. CÁC CƠ SỞ KINH TẾ - DOANH NGHIỆP
a- Tiểu thủ công nghiệp:
Các ngành nghề như đúc đồng truyền thống, nề, mộc, cơ khí nhỏ được duy trì và phát triển có chất lượng cao hơn. Bước đầu đã tạo ra một số sản phẩm tiêu thụ được trên thị trường. Giá trị sản xuất hàng năm tăng từ 15% - 30% luôn duy trì ở tốc độ khá.
b. Thương mại – Dịch vụ:
Một số ngành nghề phát triển nhanh và có hiệu quả như: dịch vụ du lịch, xuất khẩu lao động, vận tải, khai thác cát sạn, dịch vụ xây dựng; giá trị thương mại dịch vụ hàng năm tănmg từ 10 – 15%, riêng năm 2009 tăng 31,9%. Tổng mức bán lẻ hàng hoá và doanh thu khách sạn, nhà nghỉ, nhà hàng cũng tăng nhanh.

 


-------------------------------------------------------------



Đ/c Nguyễn Văn Thành - Chủ tịch UBND thành phố Huế, trao danh hiệu “Công dân danh dự” cho Bác sĩ Gian Duri Toendury.

Festival Nghề truyền thống Huế 2019